Với phòng khách 15–25 m², sofa chính thường dài khoảng 200–260 cm và sâu khoảng 85–100 cm, đặt sao cho còn lối đi chính rộng chừng 80–90 cm và khoảng 40–45 cm tới bàn trà. Sofa Ý hay có mặt ngồi thấp và sâu hơn sofa quen thấy ở Việt Nam, nên đọc kỹ bản vẽ kích thước trước khi đặt, nhất là với hàng đặt theo đơn không đổi trả được.
Bài này hướng dẫn đo phòng đúng cách, cách đọc các con số trên bản vẽ sofa của hãng Ý (tổng sâu, sâu mặt ngồi, cao mặt ngồi, cao tay vịn), cách tính để sofa không lấn lối đi, và cách thử bố trí ngay trên sàn nhà trước khi xuống tiền. Các con số trong bài là thông lệ thiết kế để khởi đầu, không phải chuẩn bắt buộc.
Vì sao kích thước là lỗi đắt nhất khi mua sofa
Trong các lỗi khi mua sofa, chọn sai kích thước là lỗi khó sửa nhất. Sai màu có thể bù bằng gối, thảm; sai độ êm có thể thêm lớp đệm; nhưng sofa sâu hơn phòng chịu được hai mươi phân thì chỉ có một cách là đổi. Với sofa Ý đặt theo đơn, hàng sản xuất riêng theo màu vải hoặc da bạn chọn, đổi trả thường không được hoặc mất phần cọc lớn.
Lý do lỗi này phổ biến là cảm giác về kích thước ở showroom bị đánh lừa. Showroom có trần cao, diện tích rộng, ánh sáng nhiều, nên một chiếc sofa dài ba mét trông vừa vặn. Đặt vào phòng khách căn hộ trần 2,8 m, có cửa ban công một bên, cửa phòng ngủ một bên, chiếc sofa ấy sẽ choán cả phòng.
Thêm một yếu tố riêng của sofa Ý: nhiều mẫu thiết kế cho phòng khách châu Âu rộng, mặt ngồi sâu để ngồi thả lỏng hoặc co chân. Người Việt quen sofa sâu vừa, ngồi thẳng lưng tiếp khách, sẽ thấy mặt ngồi quá sâu, phải chèn thêm gối mới tựa được lưng. Vì vậy, ngoài kích thước tổng, cần hiểu những con số bên trong.
Đọc bản vẽ kích thước của một chiếc sofa Ý
Catalogue kỹ thuật của các hãng Ý thường có bản vẽ ba hình chiếu với các con số sau. Hiểu từng con số giúp so sánh các mẫu một cách công bằng:
| Ký hiệu thường gặp | Nghĩa | Khoảng hay gặp | Ảnh hưởng |
|---|---|---|---|
| L (larghezza) | Tổng chiều dài, tính cả tay vịn | 160–300 cm | Choán bao nhiêu tường |
| P (profondità) | Tổng chiều sâu, từ lưng tới mép trước | 80–110 cm | Choán bao nhiêu sàn |
| H (altezza) | Chiều cao tới đỉnh lưng | 65–90 cm | Che cửa sổ hay không, phòng trông cao hay thấp |
| Cao mặt ngồi | Từ sàn tới mặt đệm ngồi | 38–46 cm | Ngồi xuống đứng lên dễ hay khó |
| Sâu mặt ngồi | Từ mép trước tới chỗ đệm lưng | 50–70 cm | Ngồi thẳng tựa lưng được hay phải chèn gối |
| Cao tay vịn | Từ sàn tới đỉnh tay vịn | 45–70 cm | Tì tay, gối đầu khi nằm |
Chữ viết tắt lấy theo tiếng Ý vì nhiều catalogue gốc dùng như vậy; bản dịch tiếng Anh thường ghi W, D, H. Nếu catalogue chỉ có tổng chiều sâu, hãy hỏi thêm sâu mặt ngồi và cao mặt ngồi; hai con số này mới quyết định cảm giác ngồi.
Một mẹo kiểm nhanh: lấy chiều dài từ khoeo chân tới lưng khi ngồi thẳng của người hay dùng sofa nhất, so với sâu mặt ngồi. Nếu sâu mặt ngồi dài hơn đáng kể, người đó sẽ phải chèn gối hoặc ngồi lùi vào và co chân.
Đo phòng đúng cách trước khi xem sofa
Đo phòng một lần cho kỹ, ghi lên một bản vẽ đơn giản trên giấy kẻ ô; bản vẽ này dùng cho cả sofa, bàn trà, kệ tivi và thảm:
- Đo chiều dài, chiều rộng phòng ở sát chân tường, không đo giữa phòng vì tường có thể không thẳng.
- Đánh dấu mọi cửa: cửa đi, cửa ban công, cửa sổ, chiều cánh mở và khoảng quét của cánh cửa.
- Đánh dấu ổ cắm, công tắc, điều hoà, cột, hộp kỹ thuật, bậc thềm. Sofa chắn ổ cắm duy nhất của tường là chuyện rất thường gặp.
- Vẽ đường đi tự nhiên: từ cửa chính tới bếp, tới cầu thang, tới ban công. Đường đi này phải giữ thông.
- Đo chiều cao bậu cửa sổ: lưng sofa cao hơn bậu sẽ che một phần cửa sổ.
- Đo đường vào nhà: chiều rộng cửa chính, hành lang, kích thước lòng thang máy và cửa thang, chỗ rẽ cầu thang ở nhà phố.
Mang bản vẽ này khi đi xem sofa. Người bán có kinh nghiệm sẽ nhìn bản vẽ để gợi ý kích thước và cấu hình; người chỉ muốn bán món đắt nhất sẽ bỏ qua nó.
Gợi ý kích thước theo diện tích phòng
Các gợi ý dưới đây giả định phòng hình chữ nhật thông thường, một sofa chính, một bàn trà, có thể thêm ghế bành; phòng có nhiều cửa hoặc hình dạng lạ cần điều chỉnh:
| Diện tích phòng | Sofa chính gợi ý | Tổng sâu nên nhắm | Thêm gì được |
|---|---|---|---|
| Khoảng 15 m² | Hai chỗ rưỡi, khoảng 190–220 cm | 85–90 cm | Một ghế bành nhỏ hoặc ghế đôn |
| Khoảng 18–20 m² | Ba chỗ, khoảng 220–240 cm | 90–95 cm | Một ghế bành, bàn phụ |
| Khoảng 22–25 m² | Ba chỗ lớn khoảng 240–260 cm hoặc sofa góc gọn | 95–100 cm | Hai ghế bành hoặc một ghế dài thư giãn |
| Trên 25 m², thông bếp | Sofa module hoặc sofa góc | Có thể trên 100 cm | Cụm ngồi kéo ra khỏi tường |
Bảng là điểm khởi đầu. Một phòng 20 m² có hai cửa đi và một cửa ban công trên ba bức tường sẽ dùng được ít tường hơn một phòng 18 m² chỉ có một cửa. Bản vẽ thực tế luôn thắng bảng gợi ý.
Một nguyên tắc tỉ lệ hay dùng: sofa chính không nên dài quá khoảng hai phần ba bức tường nó dựa vào, để hai bên còn chỗ thở cho bàn phụ, đèn cây hoặc đơn giản là khoảng trống.
Lối đi và khoảng cách giữa các món
Lối đi chính. Đường người đi lại thường xuyên giữa các phòng nên rộng khoảng 80–90 cm trở lên. Đừng để lối đi chính cắt ngang giữa sofa và tivi, vì người đi qua sẽ che màn hình và người ngồi bị phân tâm.
Lối đi phụ. Lối vào một góc ngồi hay ra ban công có thể hẹp hơn, khoảng 60 cm, nếu chỉ một người đi.
Sofa tới bàn trà. Khoảng 40–45 cm là vừa với tay mà đủ chỗ duỗi chân. Ngắn quá vướng đầu gối, dài quá phải nhoài người.
Sofa tới kệ tivi. Tuỳ cỡ màn hình và thói quen xem, nhưng cần đủ để bàn trà và lối đi nằm giữa mà không chật. Màn hình lớn trong phòng nhỏ không chỉ chói mắt mà còn ép sofa phải lùi sát tường.
Sofa tới cửa sổ, điều hoà. Chừa khoảng cho rèm buông và kéo được; không đặt sofa ngay dưới luồng gió điều hoà thổi thẳng vào đầu người ngồi.
Kích thước các món đi kèm: ghế bành, đôn, thảm
Sofa đúng cỡ mà các món quanh nó sai cỡ thì cụm ngồi vẫn lệch. Một số thông lệ khi chọn món đi kèm cho phòng 15–25 m²:
- Ghế bành: chiều cao mặt ngồi gần bằng mặt ngồi sofa, chênh không quá vài phân, để người ngồi hai bên nhìn nhau ngang tầm. Ghế bành quá to so với sofa sẽ tranh vai chính; quá nhỏ trông như ghế trẻ con.
- Đôn gác chân: cao bằng hoặc thấp hơn mặt ngồi sofa một chút; nếu dùng thay bàn trà thì chọn loại mặt phẳng, chắc, đặt được khay.
- Bàn phụ đầu sofa: mặt bàn cao xấp xỉ tay vịn, để đặt cốc mà không phải với lên hay cúi xuống.
- Thảm: đủ rộng để ít nhất hai chân trước của sofa và ghế bành đặt lên. Thảm nhỏ lọt thỏm giữa bàn trà làm cụm ngồi trông rời và phòng trông nhỏ hơn.
- Đèn cây cạnh sofa: chụp đèn hoặc đầu đèn nằm cao hơn vai người ngồi một chút, chiếu từ bên hoặc sau vai, không chiếu thẳng vào mắt.
- Bàn console sau sofa: cao bằng hoặc thấp hơn đỉnh lưng sofa, sâu chừng 30–40 cm.
Ghi kích thước của từng món lên cùng bản vẽ phòng. Tổng thể cân đối hay không thường lộ ra ngay trên giấy, trước khi bất kỳ món nào được giao tới.
Phần bàn trà được bàn riêng trong bài về bàn trà mặt đá và mặt kính, bao gồm chiều cao và chiều dài so với sofa.
Thử bố trí trước khi đặt hàng
Cách đơn giản và chính xác nhất là dán băng dính giấy trên sàn theo đúng kích thước tổng của sofa, bàn trà và các món khác. Để nguyên vài ngày, đi lại, ngồi ghế cũ trong khung băng dính, mở cửa ban công, kéo rèm. Những chỗ vướng sẽ lộ ra rất nhanh, rõ hơn mọi bản vẽ.
Để hình dung chiều cao, dựng tạm vài thùng các-tông chồng lên nhau theo chiều cao lưng sofa ở đúng vị trí. Bạn sẽ thấy lưng sofa có che cửa sổ không, có chắn tầm nhìn từ cửa chính vào phòng không. Với sofa đặt giữa phòng làm vách ngăn với phòng ăn, bước này đặc biệt quan trọng.
Nhiều hãng Ý và người bán có công cụ ba chiều để đặt mẫu sofa vào mặt bằng phòng, hoặc ứng dụng thực tế tăng cường để xem qua điện thoại. Các công cụ này tiện để thử màu và cấu hình, nhưng tỉ lệ trên màn hình dễ đánh lừa; vẫn nên dán băng dính để kiểm chứng.
Cuối cùng, ngồi thử mẫu thật ở cửa hàng với đúng chiều sâu và chiều cao mặt ngồi mà bạn định đặt. Nếu hãng có nhiều tuỳ chọn độ sâu cho cùng kiểu dáng, hãy ngồi cả hai.
Đường vào nhà: sofa có đi qua được cửa không
Không ít chiếc sofa đã phải quay về kho vì không qua được thang máy hoặc chỗ rẽ cầu thang. Trước khi đặt, kiểm:
- Kích thước đóng kiện của sofa, không phải kích thước sofa: kiện gỗ, xốp bảo vệ làm mỗi chiều lớn thêm vài phân.
- Lòng thang máy chung cư: chiều sâu, chiều rộng, chiều cao cửa và lòng cabin; sofa dài thường phải dựng đứng hoặc chéo.
- Cầu thang nhà phố: chỗ chiếu nghỉ, chỗ rẽ, chiều cao trần tại chỗ rẽ.
- Chân, tay vịn, lưng có tháo được không; sofa module chia khối nhỏ dễ đưa vào nhà hơn.
- Nếu hành lang quá hẹp, hỏi trước phương án cẩu qua ban công và chi phí, cũng như quy định của ban quản lý toà nhà.
Chuyện đóng kiện, vận chuyển và nghiệm thu khi nhận hàng được bàn kỹ ở danh mục đặt mua, vận chuyển và lắp đặt của trang.
Câu hỏi thường gặp
Sofa sâu 100 cm có quá lớn cho phòng 18 m² không?
Thường là lớn, trừ khi phòng vuông, ít cửa và bạn thích ngồi co chân, nằm dài. Với phòng 18 m², tổng sâu khoảng 90–95 cm thường cân hơn. Nếu thích mẫu sâu, kiểm bằng băng dính trên sàn xem lối đi còn đủ không.
Chiều cao mặt ngồi bao nhiêu thì hợp người lớn tuổi?
Mặt ngồi cao hơn một chút, khoảng từ 44–46 cm, kèm mặt ngồi chắc và tay vịn đủ cao để chống tay đứng dậy, thường dễ chịu hơn cho người lớn tuổi. Nhiều sofa Ý dáng thấp có mặt ngồi dưới 40 cm, đẹp nhưng khó đứng lên.
Sofa có nên dài bằng cả bức tường?
Thường không nên. Sofa dài hết tường trông bị nhét vào, không còn chỗ cho bàn phụ, đèn cây. Để lại mỗi bên một khoảng, sofa dài khoảng hai phần ba tường, phòng sẽ cân và thoáng hơn.
Làm sao biết sofa có che cửa sổ không?
So chiều cao lưng sofa với chiều cao bậu cửa sổ tính từ sàn. Nếu lưng cao hơn bậu, nó sẽ che một phần kính khi kê sát. Có thể chọn mẫu lưng thấp, hoặc kê sofa cách tường một chút và đặt console thấp phía sau.
Bản vẽ ghi kích thước bằng milimét hay xăng-ti-mét?
Catalogue châu Âu có thể ghi xăng-ti-mét hoặc milimét, đôi khi cả inch trong bản tiếng Anh cho thị trường Mỹ. Luôn kiểm đơn vị ở góc bản vẽ. Nhầm đơn vị là lỗi hiếm nhưng khi xảy ra thì rất tốn kém.
Có nên đặt sofa giữa phòng thay vì dựa tường?
Nên khi phòng đủ rộng, thường từ khoảng 20 m², và bạn muốn chia vùng với phòng ăn hoặc tạo lối đi sau lưng sofa. Khi đó chọn sofa có lưng hoàn thiện đẹp và chừa lối đi phía sau rộng tối thiểu khoảng 80 cm.